Các căn cứ phát sinh nghĩa vụ

1.1. Hợp đồng:

  Khái niệm: Điều 385 BLDS 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

  Hợp đồng được giao kết hợp pháp làm phát sinh nghĩa vụ của các bên chủ thể. Hợp đồng dân sự là căn cứ phổ biến và chủ yếu nhất làm phát sinh nghĩa vụ (Chẳng lẽ hợp đồng lao động không làm phát sinh nghĩa vụ dân sự? Điều này có lẽ được lí giải rằng quan hệ lao đọng cũng là một trong các quan hệ dân sự, trong sự phát triển của xã hội, quan hệ dân sự phát sinh ngày càng nhiều, càng phát sinh nhiều thêm quan hệ hợp đồng)

  Lưu ý: Không phải sự thỏa thuận nào cũng tạo nên hợp đồng. Sự thỏa thuạn giữa các bên là hợp đồng nếu như đáp ứng các dấu hiệu:

  • Có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của ít nhất hai bên chủ thể (sự thỏa thuận). (Vậy để lại di chúc là hành vi pháp lý đơn phương có được xem là hợp đồng không? Có lẽ không vì nó chỉ thể hiện ý chí của một bên muốn để lại di chúc, còn bên nhận, chắc gì họ đã nhận, nhưng nó vẫn phát sinh ngĩa vụ mà đúng k? Haha câu hỏi đã được giải quyết bên dưới mục 1.2)
  • Sự thỏa thuận giữa các bên phải nhằm mục đích tạo lập hệ quả pháp lý: phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ. (Vậy chứ còn thứ gì khác?)
  • Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng được xác lập.
  • Mục đích và nội dụng hợp đồng không vi phạm vào điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (Hợp đồng giết người, đốt nhà đồ này nọ là không được nhé)
  • Sự thỏa thuận giữa các bên được thể hiện dưới một hình thức nhất định (văn bản, hợp đồng có nhất thiết bằng văn bản k?)

1.2. Hành vi pháp lý đơn phương:

  Khái niệm: Là sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ.

  Dấu hiệu:

  • Là sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể (Điểm khác với hợp đồng là nằm ở đây nà. Nếu hợp đồng yêu cầu cả hai bên đều thỏa thuận và có ý chí của hai bên, thì hành vi pháp lý đơn phương không yêu cầu điều đó, nó là sự tự do thể hiện chí, sự tự định đoạt của một bên chủ thể trong quan hệ mà không đòi hỏi sự đồng ý của bên còn lại, Vậy có quá vô lý không? Khi hành vi của một bên lại làm phát sinh nghĩa vụ bên kia? Giả sử A quá yêu B, A tặng B tùm lum, hoa cỏ, này nọ, B thấy rất rất phiền, nhưng đó là hành vi đơn phương B đâu có quyền cản)
  • Sự thể hiện ý chí của một bên đã đủ giá trị pháp lý để làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ mà không cần phụ thuộc vào sự đồng ý hay không đồng ý của bên kia. (Lưu ý nhỏ thú vị: Trong quan hệ tài sản, nếu A tặng mà B không nhận thì không thì quan hệ tặng cho không được xác lập nên quan hệ tặng cho được xếp vào nhóm hợp đồng chứ không phải hành vi pháp lý đơn phương. Điều 457 BLDS thế hiện điều này bằng từ: Hợp đồng tặng cho tài sản) (Ok câu hỏi bên trên nà. Quyết định nhận hay từ chối tài sản là hành vi pháp lý đơn phương của người thừa kế nếu nó đáp ứng đủ các điều kiện: do người có năng lực chủ thể thực hiện, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội, hành vi này được thể hiện bằng hình thức phù hợp)

1.3. Thực hiện công việc không có ủy quyền:

   Khái niệm: Điều 574 BLDS: “Thực hiện công việc không có ủy qyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”

  Đây là trường hợp thể hiện tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng đó, nhưng mà không biết rằng mình đã vô tình làm phát sinh nghĩa vụ cho chính bản thân. Dấu hiệu:

  • Không do ủy quyền, không do thỏa thuận, không do pháp luật quy định.
  • Vì lợi ích của người có công việc được thực hiện.
  • Người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối việc thực hiện công việc đó. (Nếu biết mà không phản đối là sao nhỉ, theo mình ví dụ: A thu dọn rơm dùm B khi trời mưa, B đứng trong nhà dòm ra thấy, B cũng ok luôn)

  Quyền và nghĩa vụ hai bên:

  • Người thực hiện công việc: Điều 575 BLDS 2015
  • Người có công việc được thực hiện: Điều 276 BLDS 2015

2.4 . Chiếm hữu sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật:

  Khái niệm: Điều 579 BLDS 2015

“1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.”

  Cái này thì không có dấu hiệu gì đâu: Hiểu chung là lấy tài sản của người khác thì phải trả.

2.5. Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật:

  Khái niệm:Có thể có hai cách hiểu:

  • Là sự gia tăng tài sản hoặc phát sinh việc chiếm hữu, sử dụng của một chủ thể mà không có căn cứ pháp luật (Ví dụ đơn giản nhất là ngân hàng chuyển tiền nhầm)
  • Là việc tránh những khoản chi phí để bảo quản, giữ nguyên tài sản mà lẽ ra tài sản phải giảm sút (Ví dụ: Rải nhầm phân bón vào ruộng người khác với điều kiện cả hai ruộng cùng thời gian sinh trường. Tại sao? Tại vì nếu hai đám ruộng khác nhau thì người rải không lí nào đi rải nhầm, mà nếu người rải cố ý rải với lòng tốt thì chuyển sang cái nghĩa vụ “thực hiện công việc không có ủy quyền rồi”)

  Dấu hiệu

  • Thứ nhất, lợi ích người này là thiệt hại người kia (Ngân hàng chuyển nhầm tài khoản thì người đc chuyển nhận lời còn người đáng lí phải được chuyển thì bị thiệt.)
  • Thứ hai, sự được lợi về tài sản không dựa trên pháp luật dân sự quy định
  • Người được lợi về tài sản không biết tài sản được hưởng là tài sản của người khác

Khi biết được thì phải hoàn trả, không phải gọi là bồi thường. Vì ở đây không có yếu tố lỗi

2.6. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật:

  Khái niệm: Khoản 1 điều 584 BLDS “1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”

  Dấu hiệu:

  • Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra trên thực tế (Tại sao? Bởi vì nếu không có thiệt hại, người ta sẽ gánh các trách nhiệm khác như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính nhưng không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại)
  • Có hành vi trái pháp luật  (Có thể hành động: Ăn cắp; hoặc không hành động: theo mình thì hành vi không hành động là không tố giác người vi phạm, trốn nghĩa vụ quân sự nhưng những hành vi này đúng là gây ra thiệt hại thật nhưng phát sinh nghĩa vụ gì nhỉ?
  • Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại xảy ra (Cái này mình hiểu là vầy nha: Nếu như một loạt hành động liên tiếp xảy ra, thì cái nào trực tiếp làm ra hậu quả thì mới tính. Ví dụ: A đâm B, nếu B chết do A đâm thì A có trách nhiệm còn nếu A đâm B bị thương thôi rồi B bị nhiễm trùng chết thì lỗi giết người không phải của A)

Bình luận về bài viết này

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu